Giải pháp phòng chống và chữa bệnh Vẹo cột sống và tật cận thị
Phòng chống và chữa bệnh Vẹo cột sống:
Hiện nay ngày càng có nhiều các bậc phụ huynh dẫn con đến bác sĩ để khám và điều trị đau thắt lưng. Cột sống của trẻ em phát triển liên tục trong suốt thời kỳ thiếu nhi cho đến tuổi dậy thì. Cột sống có thể bị tổn thương bởi nhiều nguyên nhân khác nhau như cơ học, viêm nhiễm, u bướu hay thần kinh. Khi bị các bệnh cột sống này, trẻ cảm thấy đau thắt lưng đồng thời xuất hiệnchứng co cứng cột sống. Trẻ khó thực hiện các động tác cúi xuống nhấc đồ vật lên, nghiêng hay ưỡn ngửa người ra phía sau khi tập thể dục, làm các động tác sinh hoạt thường ngày. Khi khám lâm sàng, có thể thấy được cột sống trẻ vẹo hay gù.
Bệnh Vẹo cột sống sẽ gây lệch trọng tâm cơ thể, khiến trẻ ngồi học không được ngay ngắn, gây cản trở cho việc đọc, viết và làm căng thẳng thị giác, cản trở việc tập trung trí não của trẻ.
Vẹo cột sống ở trẻ càng nhỏ thì tiến triển càng nhanh và nữ bị nhiều hơn nam. Vẹo cột sống dẫn đến nhiều hậu quả như khiến trẻ học tập sa sút (Do ngồi học mệt mỏi, tê tay chân...) ảnh hưởng đến tim phổi, chậm phát triển chiều cao, méo xương chậu gây ảnh hưởng đến sự sinh đẻ sau này của trẻ nữ. Hơn nữa, Vẹo cột sống còn gây ra nhiều bệnh toàn thân do tổ chức liên kết của cơ thể lỏng lẻo (Sa dạ dày, ruột...), ảnh hưởng đến tương lai của trẻ như làm trẻ không theo đuổi được những ngành nghề yêu thích (Phi công, vận động viên, người mẫu, vũ công...)
Bố mẹ cũng như người chăm nuôi trẻ cần nắm được những hiểu biết cơ bản về cách giữ gìn cột sống và biết cách áp dụng vào trong từng trường hợp cụ thể:
1. Trẻ cần được giữ lưng thẳng khi ngồi học:
Các thầy cô giáo và các bậc phụ huynh cần hướng dẫn trẻ giữ lưng thẳng hay ưỡn cột sống thắt lưng khi ngồi học. Thầy cô giáo nên khuyến khích học sinh ra chơi giữa giờ, tránh hiện tượng học sinh ngồi quá lâu trong tư thế căng thẳng, dễ làm hại đến cột sống vốn còn non nớt của trẻ.Trẻ em tuổi mẫu giáo nếu phải ngồi học hay xem vô tuyến lâu, cột sống rất dễ bị gù, vẹo do hệ cơ bắp của trẻ chưa đủ sức đỡ được cơ thể trong thời gian dài. Do vậy, trẻ cần được tạo những điều kiện sinh hoạt, vui chơi, hoạt động thoải mái. Khi đó trẻ có thể thay đổi tư thế cột sống thường xuyên, kết hợp các hoạt động thể lực và nghỉ ngơi một cách hài hòa.
Cần chú ý quan tâm giữ gìn tư thế đúng của cột sống cho con cái, học trò của mình ngay từ khi trẻ mới lọt lòng. Đó là biện pháp rất quan trọng và cần thiết để cho trẻ có được tư thế, thói quen tốt ngay từ đầu đời, góp phần phòng tránh được nhiều dị tật cột sống, chứng đau thắt lưng, nâng cao kết quả học tậpvà chất lượng sống cho trẻ em.
2. Chỉ bắt đầu dạy trẻ tập đi khi trẻ có thể và muốn tập đi:
Trẻ mới lọt lòng không thể đi lại ngay được do não và cơ quan vận động còn chưa phát triển. Theo quá trình phát triển sinh lý bình thường, phải đến 10 tháng tuổi trẻ mới có thể dần biết đứng lên và lẫm chẫm biết đi. Tuy nhiên, do trẻ em phát triển không giống nhau nên nhìn chung trẻ trong khoảng 10-18 tháng tuổi bắt đầu tập đi là bình thường.Một số phụ huynh nóng vội, sốt ruột bắt trẻ em phải tập ngồi, đứng, đi lại quá sớm. Trẻ sớm biết đi được coi là thành tích, cũng là niềm vui và tự hào của người lớn, và lại càng bị ép phải "tiến bộ" hơn. Điều đó làm cho cột sống trẻ còn non nớt phải gánh chịu tải trọng quá lớn của đầu và phần trên cơ thể nên dễ bị đau lưng về sau này. Cách tốt nhất là cần chọn thời điểm thích hợp để dạy trẻ tập đi. Nếu trẻ chưa muốn tập đi thì không nên cưỡng. Hãy để trẻ vận động theo đúng khả năng của mình. Khi trẻ mới bắt đầu tập đi thì người lớn phải đỡ, dìu trẻ.
3. Vận động:
Cần cho trẻ tập những bài thể dục riêng rèn luyện các nhóm cơ bụng và lưng như ưỡn lưng, vươn vai, nghiêng người. Không cho trẻ mang vác, xách đồ vật nặng và lệch về một bên.
4. Sử dụng bàn, ghế học tập phù hợp:
Trường học và các gia đình nên sắm bàn ghế phù hợp với từng lứa tuổi và độ cao của trẻ. Độ cao bàn và ghế phải vừa tầm có thể tỳ cẳng tay thoải mái trên bàn mà không làm so vai (Bàn không quá cao, ghế không quá thấp) hoặc gù lưng, cong lưng (Bàn không quá thấp, ghế không quá cao).

Phòng chống và chữa tật Cận thị:
Tật Cận thị không những làm giảm khả năng học tập của trẻ mà còn ảnh hưởng đến các hoạt động thể chất của trẻ do trẻ ngại tham gia các hoạt động thể thao, ảnh hưởng đến tâm lý làm trẻ kém tự tin trong giao tiếp với bạn bè.
Khi đã Cận thị, nếu không được phát hiện sớm để điều trị sẽ gây mệt mắt, thậm chí nhức mắt hoặc nhức đầu ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ. Trẻ Cận thị bị hạn chế trong nhiều lĩnh vực như sự nhanh nhạy, giao tiếp xã hội, nhận biết hình thể, sử dụng bàn tay cũng như việc lựa chọn một số nghề. Hơn nữa, Cận thị còn có thể dẫn đến những bệnh lý như lé mắt, nhược thị (người đã bị nhược thị hay lé thì thị lực không thể phục hồi như cũ. Dù có áp dụng tất cả các biện pháp điều trị tiên tiến nhất, kể cả phẫu thuật thì thị lực chỉ có thể đại tối đa ở mức 7/10), co quắp điều tiết... gây ảnh hưởng đến quá trình học tập của trẻ và còn để lại di chứng cho thế hệ sau.
Tật Cận thị hoàn toàn có thể phòng được nếu có sự phối hợp tích cực giữa học sinh, gia đình và nhà trường. Sau đây là một số chỉ dẫn cần được tuân thủ trong sinh hoạt và học tập:
1. Giữ đúng tư thế ngồi khi học:
Ngồi thẳng lưng, hai chân khép, hai bàn chân để ngay ngắn sát nền nhà, đầu cúi 10-15 độ. Khoảng cách từ mắt đến sách vở trên bàn học là 25 cm đối với học sinh tiểu học, 30 cm với học sinh trung học cơ sở, 35 cm với học sinh trung học phổ thông và người lớn. Thầy cô giáo và cha mẹ học sinh phải thường xuyên nhắc nhở, không để các em cúi gằm mặt, nghiêng đầu, áp má lên bàn học khi đọc hoặc viết.
2. Không gian học tập phù hợp, đảm bảo đủ ánh sáng:
Kích thước phòng học; cách sắp xếp bàn ghế, bảng viết phải phù hợp với lứa tuổi để học sinh có thể ngồi đúng tư thế và giữ đúng khoảng cách từ mắt đến sách vở. Ánh sáng nơi tối nhất không dưới 30 lux, nơi sáng nhất không quá 700 lux. Khi ngồi viết, ánh sáng phải chiếu phía đối diện của tay cầm bút, chữ và giấy phải có độ tương phản tốt. Khi học bài buổi tối cần đèn đủ sáng và có chụp phản chiều. Không dùng đèn ống neon, nên dùng bóng điện dây tóc.
3. Chữ viết rõ ràng:
Chữ viết trên bảng và trong sách vở phải rõ nét, chiều cao ít nhất của chữ viết là 1/200 khoảng cách từ mắt tới chữ. Ví dụ, khoảng cách từ bảng tới học sinh là 8 m thì chiều cao tối thiểu của cỡ viết trên bảng phải là 4 cm. Chữ trong vở phải có chiều cao ít nhất 1,75 mm cho khoảng cách từ mắt đến vở là 35 cm. Không viết mực đỏ, mực xanh lá cây. Không đọc sách có chữ quá nhỏ in trên giấy vàng hoặc giấy đen, vì tỷ lệ tương phản giữa chữ và nền quá nhỏ, khiến mắt bị mệt.
4. Để mắt làm việc hợp lý:
Duy trì mỗi tiết học 45 phút, sau đó nghỉ giải lao, đưa mắt nhìn xa, hết co thắt thị giác rồi mới bước vào giờ học tiếp theo. Khi xem ti vi, video phải ngồi cách xa màn hình tối thiểu 2,5 m, nơi ánh sáng phòng phù hợp. Thời gian xem cần ngắt quãng, không quá 45-60 phút mỗi lần xem.
5. Bỏ những thói quen, hành động có hại cho mắt:
Không đọc sách, truyện trên ô tô, tàu hỏa, máy bay hay nằm hoặc quỳ để đọc hoặc viết bài. Không tự ý dùng kính đeo mắt không đúng tiêu chuẩn. Khi đeo kính cần tuân thủ những hướng dẫn của nhà chuyên môn.
* Việc khám mắt
định kỳ 6 tháng một lần cũng là một biện pháp hết sức quan trọng trong việc phòng chống tật cận thị cho trẻ.
* Ngoài ra, một chế độ ăn uống, dinh dưỡng hợp lý cũng góp phần giảm khả năng bị tật cận thị ở trẻ.
Xem chi tiết Áo phòng chống Vẹo cột sống và Cận thị Healthy Kids

299.000 VNĐ